Ngành logistics Việt Nam trong đại dịch Covid-19 những thách thức và cách để vượt qua

Đại dịch Covid-19 bùng phát từ cuối tháng 01/2020 gây thiệt hại nặng nề về kinh tế, văn hóa, xã hội và đời sống con người trên toàn thế giới. Đến cuối tháng 7/2021 đã có gần 200 triệu người mắc bệnh và 4,2 triệu người chết. Đại dịch đã gây áp lực nặng nề lên khả năng sản xuất và dây chuyền cung ứng toàn cầu và cũng chính đại dịch cũng mở ra con đường mới để ngành dịch vụ logistics phát triển.

Do đại dịch, chuỗi cung ứng đã bị đứt gẫy và đảo lộn, trong đó có các hoạt động logistics – xương sống của chuỗi cung ứng. Các dịch vụ vận tải hàng không, vận tải đường bộ và vận tải đường sắt bị tác động nặng nề nhất. Vận tải biển ít bị ảnh hưởng hơn với cước phí vẫn giữ vững mặc dù yêu cầu chuyên chở có giảm sút và khó khăn về thủ tục do đại dịch. Các đặc điểm này của chuỗi cung ứng và dịch vụ logistics thế giới đã thể hiện đầy đủ trong ngành dịch vụ logistics Việt Nam.

Từ khả năng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không và đường biển bị giảm nhiều và sự chuyển đổi nhanh chóng. Thói quen tiêu dùng của người dân cũng dần thay đổi từ mua hàng tại cửa hàng sang thương mại điện tử. Trước đại dịch COVID-19, chưa bao giờ nhiều doanh nghiệp và người tiêu dùng phải điều chỉnh, ứng biến và đổi mới quá nhanh.

1. Các thách thức ngành Logistics trong giai đoạn này

1.1. Chi phí vận chuyển

Đây là thách thức lớn nhất đối với ngành, vì chi phí vận tải chiếm một phần lớn khoảng 30% tổng chi phí. Đặc biệt trong thời gian dịch bệnh các chuỗi cung ứng bị đứt gẫy khí nhiều ngành hàng tăng phi mã, nhiều mặt hàng thiết yêu như thép, inox tăng hơn 50% tính riêng tháng đầu năm. Các công ty có thể giới hạn số lượng đối tác vận tải và đàm phán để có mức giá thấp hơn. Tuy nhiên, điều này làm tăng nguy cơ phụ thuộc quá mức vào một số đối tác

1.2. Thiếu hụt nhân lực

Nguồn nhân lực luôn là vấn đề nan giải trong ngành Logistics. Đặc biệt là trong thời kì covid bùng phát. Để bảo vệ người dân chính phủ cũng có thêm nhiều chính sách khăt khe hơn cho người trực tiếp vân chuyển hàng. Theo báo cáo của PwC, trong những năm sắp tới, các công ty Vận chuyển và Logistics sẽ phải tìm kiếm nguồn nhân lực tương đương 1 triệu nhân sự để đáp ứng nhu cầu cho gần 110tr dân số việt nam được dự báo vào năm 2030.

1.3. Thiếu hụt kho bãi.

COVID-19 đã thúc đẩy sự chuyển dịch của người tiêu dùng sang mua hàng trực tuyến. Các doanh nghiệp vượt qua cơn bão bao gồm những doanh nghiệp có chiến lược tồn kho đa kênh đã chuyển sang mô hình mua trực tuyến, nhận hàng tại cửa hàng và các nhà hàng nhỏ đã chuyển đổi thành điểm bán hàng và tự chuyển đổi thành giao hàng.

Thương mại điện tử đòi hỏi thực hiện và giao hàng nhanh chóng mà cũng không tốn kém cho người tiêu dùng. Trong số các giải pháp là lưu trữ hàng tồn kho thay thế: nhiều kho bãi hơn gần điểm xuất phát hoặc điểm đến, chuyển đổi các cửa hàng thành kho lưu trữ làm trung tâm phân phối và thực hiện, hoặc sử dụng chiến lược vận chuyển hàng hóa đường biển làm “kho lưu trữ nổi” thông qua thời gian đặt hàng và giao hàng cẩn thận.

Trước đại dịch Covid, vận chuyển hàng hóa bằng đường biển thường chiếm khoảng 90% khối lượng thương mại toàn cầu. Nhưng đại dịch bùng phát các chính phủ bắt đầu cắt giảm các mặt hàng nhập khẩu không thiết yếu mà chủ yếu từ Châu Á, sau đó lan ra khắp thế giới. Tình hình dịch bệnh phức tạm khiến việc nhập cảng leo đậu tàu thuyền rất khó khăn Để đối phó với các khó khăn các hãng vận tải đường biển phản ưng bằng cách không trực tiếp leo đậu tại cách cảng, mà sang hàng qua các loại tàu trọng tải nhỏ hơn. Công suất vận chuyển hàng không cũng giảm, tình trạng thiếu tài xế và các hạn chế xuyên biên giới đã làm giảm năng lực vận chuyển hàng hóa đường bộ ở một số nơi nhất định và dẫn đến việc kho bãi thiếu hụt và chậm trễ hàng lưu kho quá nhiều.

1.4. Năng lực vận tải biển đang bắt đầu chạm đáy và ổn định

– Dịch bệnh kéo dài khiễn lượng người di chuyển bằng phương tiện hàng không giảm nghiêm trọng. Để duy trì bộ máy các hãng hàng không đã chuyển hường sang tăng sỗ lượng chuyến bay từ chờ người sang chở hàng với giá cả cạnh tranh hơn. Chính vì vậy việc dịch chuyển hàng hóa đường biển sang đường hàng dần chiếm tỉ trọng cao, mặc dù giá vận chuyển cao hơn và số lượng hàng hóa vận chuyển được ít hơn.
– Việc vận chuyển các loại hàng khẩn cấp hoặc các mặt hàng có giá trị bây giờ có thế sử dụng khoang chỏ khách của máy bay dân dụng hoặc có thể thuê riêng các máy bay trở hàng để  vận chuyển.
– Các phương thức thay thế như đường sắt, sau đó là vận tải đường dài qua biên giới

1.5. Rủi ro địa lý

Cuộc khủng hoảng cũng tạo cơ hội để đánh giá lại các vị trí trong chuỗi cung ứng. Vào thời điểm bắt đầu xảy ra đại dịch, khi Trung Quốc đóng cửa sản xuất, một số nhà bán lẻ thời trang của Mỹ cho biết hơn 70% hàng dự trữ của họ có nguồn gốc từ nước này. Sự gián đoạn đối với các ngành công nghiệp của nó đã khiến các nhà bán lẻ điện tử phải đối mặt với việc chậm trễ hàng 10 tuần . Điều này cũng đúng đối với các thương hiệu sản xuất ở các quốc gia khác. Các quốc gia bắt đầu rời trung quốc để tìm các nguồn cũng mới tại các nước đang phát triển tại châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng, Đây cũng là khó khăc, thách thức và cơ hội cho Việt Nam chuyển mình thay đổi cấu trúc nền kinh tế. Để không bị bẫy thu nhập trung bình bủa vây trong tương lai.

Liệu cuộc khủng hoảng có làm thay đổi mô hình sản xuất và tìm nguồn cung ứng toàn cầu? Nó sẽ thúc đẩy các công ty sản xuất hoặc tìm nguồn cung ứng ở châu Á đa dạng hóa bằng cách sản xuất dàn trải, hay áp dụng các chiến lược mua lại .Đối với nhiều người, sẽ rất khó để cắt đứt hoặc nới lỏng quan hệ với Trung Quốc. Các chuỗi cung ứng ở đó có hiệu quả cao, lực lượng lao động lớn và có tay nghề cao, thị trường rộng lớn và đang phát triển.

2. Một số giải pháp giúp ngành Logistics vợt qua khó khăn:

– Sát nhập để tồn tại, sát nhập là một hướng đi đúng đắn cho các công ty nhỏ muốn tăng tính cạch tranh và tận dụng tối ưu các nguồn lực vốn có. Doanh nghiệp cũng cần tìm kiếm các cơ hội mua bán, sáp nhập (M&A) hoặc theo đuổi chiến lược thoái vốn. Các doanh nghiệp cũng phân bổ lại sự phụ thuộc vào nguồn cung đầu vào trong các chuỗi cung ứng; đồng thời, dần thích nghi với các mô hình làm việc từ xa và tiếp cận với các giao dịch thương mại điện tử một cách nhuần nhuyễn, quen thuộc hơn.
– Hạn chế hàng tồn kho bằng bằng việc cácdoanh nghiệp cần áp dụng công nghệ trong kinh doanh nhiều hơn như việc số hóa, ứng dụng AI (trí tuệ nhân tạo) hay tự động hóa trong các quy trình hoạt động; tổ chức tái cấu trúc/định vị hình ảnh của doanh nghiệp tại các thị trường hiện tại.

– Tăng năng suất lao động, cắt giảm chi phí, cải thiện chiến lược kinh doanh, nâng cao hiệu quả theo dõi logistics và quản lý vòng đời sản phẩm và củng cố hệ thống vận hành. bằng cách cường ứng dụng công nghệ với những tiến bộ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nhưng các hệ thống dây chuyền vận chuyển tự động, hệ thống băng tải chuyển phát nhanh, hệ thống băng tải phân loại chia chọn sản phẩm.

Kết luận

Một bài học của cuộc khủng hoảng này là ứng dụng công nghệ tốt hơn trong hoạt động logistics sẽ chính là chìa khóa để các doanh nghiệp Việt Nam giảm các chi phí vận hành, nâng cao năng lực cạnh tranh và bứt phá trong thời kỳ hội nhập. Số hóa và thông minh hóa sẽ là hành trình để ngành logistic Việt Nam có thể vươn xa trong biển lớn toàn cầu

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Facebook
Gọi điện ngay